Katori Shinto Ryu Sword Fighting một trong những môn phái kiếm đạo cổ nhất Nhật Bản. Traditional sword school, official representative of Shinbukan Dojo, Japan.

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

KATORI SHINTO RYU: 600 NĂM LỪNG LẪY TRÊN ĐẤT PHÙ TANG VÀ NHỮNG BƯỚC ĐẦU TẠI VIỆT NAM

Vị Sáng Tổ: Một kiếm sư 101 tuổi – IZASA CHOISAI IENAO (1387 – 1488)
 Từ tấm bé, Ienao đã được học kiếm, thương và kích. Khả năng thiên phú của ông đã sớm phát lộ và tên tuổi của ông mỗi ngày một vang xa. Chẳng bao lâu, nhờ tài năng kiệt xuất và qua những chiến thắng vang dội, ông đã trở thành một vị Lãnh chúa tại vùng Shimusa (hiện nay làChiba). Ở tuổi 60, ông từ bỏ tước vị, trả tự do cho các nông nô và từ giã gia đình đến ở tại một khu rừng thâm u trên ngọn Umeki.
kiếm thuật Nhật Bản Katori Shinto Ryu Kendo Việt Nam
Di ảnh của Tổ sư
 Tại đây, cuộc sống chiêm nghiệm giữa hoang địa đưa ông đến việc đào sâu kiếm pháp với giá trị tâm linh của nó và khổ luyện với các cao thủ của hai đại diện Thần đạo là Katori và Kashima.
 Một tai nạn xảy đến với một trong các đệ tử của ông trong đền Katori, đã đưa ông tới quyết định đi tìm mục đích tối hậu của con đường kiếm thuật và ông quyết định khiết hành trong suốt 1.000 ngày. Kết quả của giai đoạn trầm tư và khổ luyện, như ông kể lại, là việc hiển thị của vị thần đền Katori dưới dạng một đứa trẻ. Vị thần của Katori Jingu tặng ông một bản binh pháp.
  Từ đó, vào tuổi thất tuần, Ienao chính thức thành lập trường phái Katori Shinto ryu. Nhiều nhóm kiếm sĩ ở quanh vùng dần dà tập trung quanh Ienao. Ông đã biến một pháp môn chủ yếu luyện tập cơ thể để chiến đấu, thành một pháp môn có chiều kích tinh thần, từ những chiêu thức để tự vệ biến thành một lộ trình để tự viên thành. Và Đạo trường đầu tiên mà ông khai trương được dựng lên gần đền Shinfuku Ji trên núi Shintoku.
 Một di sản quốc gia
 Cũng như đối với Tổ sư Ueshiba của môn phái Aikido, vị Sáng lập trường phái Katori Shinto ryu: “Võ thuật là để kiến tạo hòa bình, và tất cả những ai tự cho mình là đấng nam nhi đều phải học võ nghệ để kiến tạo hòa bình. Các môn sinh của Katori Shinto ryu luôn luôn khổ luyện với tư tưởng là chiến thắng bản thân là trăm lần khó khăn hơn chiến thắng cả trăm ngàn đối thủ”. Dần dà, uy danh đạo cao đức trọng của Ienao đã khiến cho các cao thủ lừng danh nhất thời đó đến xin thọ giáo với ông, trong số đó có vị Sáng lập lưu phái Shinkage ryu, Chưởng giáo của gia tộc Yagyu Nobutsuna và của trường phái Kashima, một trường phái mà Tổ sư Ueshiba rất coi trọng (Một số cao thủ của Kashima ryu đã được Tổ sư mời đến dạy cho đệ tử của Người tại Kobukan).
kiếm thuật Nhật Bản Katori Shinto Ryu Kendo Việt Nam
Katori Jingu
 Các kỹ thuật và nguyên lý của Katori Shinto ryu trước đây không được phổ biến ra ngoài nước Nhật và đây là một di sản phi vật chất của quốc gia. Ngay cả võ sư mà cũng là nhà nghiên cứu võ học nổi tiếng người Mỹ là Donn F.Draeger, kẻ đã từng sống gần 20 năm tại Nhật và được trao 7 đẳng kiếm thuật, cũng không được phép giảng dạy pháp môn này, mặc dù đã được nhận làm đệ tử sau nghi thức Keppan (huyết thệ). Đơn giản là vì đây là một di sản quốc gia, đã được tôn vinh là di sản quốc gia vào tháng 4/1960.
Katori Shinto ryu tại Việt Nam
Hiện nay tại Sài Gòn có một hành giả của lưu phái Katori Shinto ryu, anh là một người đam mê võ thuật được gia đình cho tập Judo từ năm lên 5 tuổi và sau đó là Quyền Anh và Muay Thái từ khoảng năm 8 tuổi. Từ năm 23 tuổi, anh theo đuổi môn Aikido tại quê nhà Hà Lan và cũng từ đó không ngừng luyện tập và nghiên cứu các môn phái võ Nhật, đặc biệt là kiếm thuật. Ở trình độ 3 đẳng Aikido, nhưng do cuộc sống nay đây mai đó khiến anh không thể thi lên đẳng.
Năm 2007, anh đến Nhật và xin thọ giáo với vị Sư trưởng của môn phái Katori Shinto ryu tại Narita. Anh lưu lại đây trong suốt 3 tháng. Sau nghi thức Keppan, anh được Sư trưởng Otake Risuke và thứ nam của ông là Shigetoshi tận tình chỉ dạy.
cropped-img_009611.jpg
Năm sau, anh lại trở lại Nhật Bản để tiếp tục thọ giáo với Shihan Kioshi của môn phái. Tuy trước đây ở Hà Lan, anh đã được một trong hai Shidosha của môn phái tại Hà Lan truyền thụ, nhưng, tại Tổng đàn Katori Shinto ryu, theo đúng truyền thống, anh chỉ được bắt đầu với phần Omote.
Thế nhưng hiện nay, vì muốn được tiếp tục luyện tập tại Việt Nam, anh đã xin phép Sư trưởng Otake Risuke và đã được chấp nhận chỉ dẫn cho một số hành giả để cùng nhau luyện tập.
Thầy của anh Malte, Yamada Sensei, vào tuổi thất tuần cũng ngỏ ý muốn giới thiệu Tenshin Shode Katori Shinto ryu cho võ lâm Việt Nam
(Nguồn Aiki-Viet)

TOMOE GOZEN – NỮ SAMURAI XINH ĐẸP

…”But now they were reduced to but five survivors, and among these Tomoe still held her place. Calling her to him, Kiso said, “As you are a woman, it were better that you now make your escape. I have made up my mind to die, either by the hand of the enemy or by mine own, and how would Yoshinaka be shamed if in his last fight he died with a woman?” Even at these strong words, however, Tomoe would not forsake him, but still feeling full of fight she replied, “Ah, for some strong and bold warrior to match with, that Kiso might see how fine a death I can die!” And she drew aside her horse and waited. Presently Onda no Hachiro Moroshige of Musashi, a strong and valiant samurai, came riding up with thirty followers, and Tomoe, immediately dashing into them, flung herself upon Onda and grappling with him, dragged him from his horse, pressed him calmly against the pommel of her saddle and cut off his head. Then stripping off her armour she fled away to the Eastern Provinces”…
Thời Heike Monogatari là thời đại mà nữ chiến binh nổi tiếng nhất và xinh đẹp nhất Nhật Bản xuất hiện – Tomoe Gozen, người đã tham gia vào cuộc chiến tranh Gempei.
Trong số các kẻ thù mà Minamoto Yoritomo phải tiêu diệt trên con đường trở thanh shogun của mình bao gồm cả người em họ của ngài – Minamoto Kiso Yoshinaka. Dù cả hai người có quan hệ huyết thống, nhưng những vinh quang của Yoshinaka khi đánh bại Taira vào năm 1183 đã khiến ông trở thành kẻ thù của Yoritomo. Vì vậy, Yoritomo đã phái em trai mình là Yoshitsune đến đối phó với Yoshinaka vào năm 1184. Yoshitsune đánh bại Yoshinaka trong trận chiến tại Uji và Awazu với sự trợ chiến đắc lực của một nữ chiến binh xinh đẹp, đó là Tomoe Gozen.
kiếm đạo kenjutsu kendo katori shinto ryu vietnam kiếm thuật
Chân dung của nữ samurai Tomoe Gozen
Tính cách của Tomoe Gozen được khắc họa rõ nét trên chiến trận của samurai. Sự độc đáo này khiến cô trở thành một huyền thoại trong suốt chiều dài lịch sử của nước Nhật. Nhưng cũng có những tương truyền bí ẩn về cô.
Đầu tiên là mối quan hệ của cô và Yoshinaka đã được đề cập tới không rõ ràng. Một phiên bản kể về thời Heike Monogatari nhắc đến cô như là một gia khách hay một người hầu. Trong bản dịch của Sadler mô tả cô là một phụ nữ đẹp từ những suy đoán có thể cô là cô giáo của Yoshinaka hay thậm chí là “người vợ chiến binh” của ông ấy.
Tuy nhiên, hoàn toàn không có sự mập mờ trong lời kể lại các chiến công của cô. Lới thuật lại quá trình chiến đấu của cô trong trận chiến Awazu trong Heike Monogatari ngắn gọn đến mức chúng ta có thể kể lại toàn bộ câu chuyện dễ dàng. Và thú vị hơn là chương nhắc tới cô, với tiêu đề “Cái chết của Kiso” lại bắt đầu bằng việc Yoshinaka đã mang theo bên mình từ Shinano không chỉ một “cô gái đẹp” mà những 2 người. Người còn lại là Yamabuki, nhưng cô ta đã ngã bệnh và ở lại kinh thành.
kiếm đạo kenjutsu kendo katori shinto ryu vietnam kiếm thuật
Tomoe Gozen đang vung đại đao Naginata trên lưng ngựa
Tomoe có mái tóc đen dài, làn da mịn màng và một gương mặt xinh xắn. Ngoài ra, cô còn là một kỵ sĩ gan dạ mà không có một con ngựa chứng nào hay một địa hình gồ ghề nào có thể làm cô chùn bước và kỹ năng kiếm thuật cùng cung thuật của cô cũng rất cao siêu. Nhiều lần cô xông pha chiến trân, tả xung hữu đột, đánh bại nhiều danh tướng dày dạn trận mạt, do đó trong trận chiến cuối cùng, khi tất cả những chiến binh khác đã bị giết hoặc bỏ chạy, Tomoe trên chiến mã của mình vẫn còn trụ lại trận địa cùng sáu người khác.
Sau khi miêu tả tài điều binh khiển tướng của Yoshinaka, câu chuyện quay trở lại với Tomoe Gozen:
“Bây giờ họ đã tổn thất nặng nề nhưng trong số những người sống sót, Tomoe vẫn giữ vững trận địa của mình. Kiso cảm phục trước sự dũng cảm của vị nữ tướng xinh đẹp, ông đã muốn tha mạng cho cô “Vì ngươi là phụ nữ, tốt hơn bây giờ ngươi hãy tìm đường trốn thoát. Ta đã sẵn sàng để chết bởi tay kẻ thù hay do chính tay ta, nhưng Kiso Yoshinaka sẽ nhục nhã đến thế nào nếu trong trận chiến cuối cùng, ta chết cùng một phụ nữ?”
Tuy nhiên, mặc cho những lời mạnh mẽ đó, Tomoe vẫn không từ bỏ, với một tinh thần chiến đấu ngoan cường, cô trả lời: “Ah,với những chiến binh dũng cảm chiến đấu cùng ta, ngài Kiso có lẽ sẽ thấy cái chết của ta vinh quang đến thế nào!”. Tomoe thu hút kẻ thù sang một phía và chờ đợi. Lúc đó, Onda no Hachiro Moroshige của Mushashi, một samurai dũng cảm và khỏe mạnh, cưỡi ngựa tiến về phía cô cùng 30 cận vệ. Không chút do dự, Tomoe lập tức lao thẳng vào đội hình kẻ thù, nhảy bổ lên người của Onda và vật lộn với hắn, kéo hắn xuống ngựa. Sau đó cô giữ chắc đầu Onda bên yên ngựa và cắt đầu hắn. Sau khi lấy được thủ cấp Onda, Tomoe cới bỏ áo giáp và cưỡi ngựa về các thị trấn phía đông.”
kiếm đạo kenjutsu kendo katori shinto ryu vietnam kiếm thuật
Tomoe đang cắt đầu tướng địch trong trận chiến Awazu 1184
Câu chuyện trên là tất cả những gì chúng ta được kể về người phụ nữ độc đáo này, người đã cưỡi ngựa đi mất và không bao giờ được nhắc đến nữa trong Heike Monogatari. Do đó chúng ta có thể kết luận về người nữ chiến binh duy nhất được miêu tả chi tiết trong các câu chuyện chiến tranh. Ngoài những đoạn nhỏ kể về Yamabuki, trong các nghiên cứu về gunkimono của Paul Varley chỉ có thể tìm một nguồn tham khảo khác về nữ samurai này. Đó là trong Gempei Seisuki, câu chuyện kể về cái chết của Kiso Yoshinaka, và Tomoe được kể rằng đã bị giết chết nhiều năm trước đó. Bên cạnh đó còn có các thất bản khác kể về Tomoe như một nữ chiến binh, xông pha chiến trường để trả thù cho người mình yêu, hoặc sau khi giết giặc cô đã đi tu…Dù cho sự thật phía sau câu chuyện của Tomoe là như thế nào, cô ta đã thật sự là một nữ chiến binh samurai huyền thoại. Trên các bản gỗ vẽ hình Tomoe trên lưng ngựa, vung đại đao naginata – một vũ khí truyền thống của phụ nữ. Sự đặc biệt của Tomoe Goze không phải chủ yếu ở các chiến công vẻ vang của cô, mà là nằm trong tình thế đặc biệt mà cô đã tìm thấy chính mình và trong một cơ hội đặc biệt để Tomoe thi triển các kỹ năng xuất chúng của mình.
- Tùng Possible
(Nguồn: The Samurai Swordman – Master of War của Stephen Turnbull)

Samurai – Những chiến binh huyền thoại

Samurai (侍)  were the military nobility of pre-industrial Japan. According to translator William Scott Wilson: “In Chinese, the character 侍 was originally a verb meaning to wait upon or accompany persons in the upper ranks of society, and this is also true of the original term in Japanese, saburau. In both countries the terms were nominalized to mean “those who serve in close attendance to the nobility,” the pronunciation in Japanese changing to saburai. According to Wilson, an early reference to the word “samurai” appears in the Kokin Wakashū (905–914), the first imperial anthology of poems, completed in the first part of the 10th century.
By the end of the 12th century, samurai became almost entirely synonymous with bushi (武 士), and the word was closely associated with the middle and upper echelons of the warrior class. The samurai followed a set of rules that came to be known as bushido. While they numbered less than 10% of Japan’s populationsamurai teachings can still be found today in both everyday life and in modern Japanese martial art.
Samurai được nhiều người biết đến như những kiếm sĩ huyền thoại của Nhật Bản trong các bộ phim võ thuật. Samurai đóng một vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử Nhật Bản 1.500 năm qua. Nhiều người coi lịch sử của Nhật bản cũng chính là lịch sử của chiến binh samurai. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu giá trị tinh thần của các chiến binh samurai, vũ khí và trang bị cũng như lịch sử của họ như thế nào.
Vậy Samurai là gì?
Samurai đảm trách nhiều vai trò ở nhật bản. Tuy nhiên, họ được biết đến nhiều nhất trong vai trò của chiến binh. Nhưng những gì làm cho một samurai khác với các chiến binh khác trên thế giới?
kenjutsu Katori shinto ryu kendo
Katana
Có 4 yếu tố để làm nên một samurai
Samurai là một chiến binh được đào tạo và có kĩ năng chiến đấu tốt.
Samurai phục vụ daimyo (lãnh chúa) hay chủ tướng, với lòng trung thành tuyệt đối, thậm chí cho đến chết. Trong tiếng nhật samurai từ có nghĩa là, “những người phục vụ.”
Samurai là tầng lớp ưu tú, được coi là ở đẳng cấp cao hơn công dân thường và binh lính thông thường.
Cuộc sống của samurai tuân theo tinh thần Bushido (võ sĩ đạo), một hệ thống luân lý đề cao sự danh dự.
Khổ luyện vì cuộc sống và chiến tranh
Qúa trình đào tạo một chiến binh samurai phụ thuộc vào sự giàu có của gia đình anh ta. Trong gia đình có đẳng cấp thấp, người con trai học tập tại các ngôi trường trong làng, và họ được đào tạo để trở thành một samurai từ cha, anh trai, hoặc chú bác. Đào tạo võ thuật được coi là rất quan trọng, và thường bắt đầu khi đứa trẻ lên năm. Con trai của gia đình giàu có hơn thì được gửi đến học viện đặc biệt, để thu nhận kiến thức văn học, nghệ thuật, và kĩ năng chiến đấu.
Chúng ta đã quá quen thuộc với hình ảnh samurai là một bậc thầy sử dụng thanh kiếm katana với các kỹ năng chết người. Tuy nhiên, samurai khi xuất hiện trong vài thế kỷ đầu tiên, còn được gọi là chiến binh cưỡi ngựa bắn cung. Bắn cung trong khi cưỡi ngựa là kĩ năng phức tạp, và làm chủ nó đòi hỏi nhiều năm luyện tập trên cả mục tiêu cố định cũng như mục tiêu di động. Trong một thời gian, chó được sử dụng như là mục tiêu chuyển động để luyện tập, cho đến khi các shogun bãi bỏ phương pháp luyện tập tàn bạo này.
Các samurai còn phải luyện tập kiếm thuật không ngừng nghỉ. Có một câu chuyện kể về một vị sư phụ đã tấn công các học trò với một thanh kiếm bằng gỗ vào những thời điểm ngẫu nhiên trong suốt cả ngày và đêm, cho đến khi các sinh viên học được cách không bao giờ đánh mất cảnh giác.
Ngoài kỹ năng chiến binh, samurai cũng được đào tạo trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như văn học và lịch sử. Trong thời Tokugawa, thời kì hòa bình, vì vậy các kiến thức học tập đặc biệt hữu ích. Tuy nhiên, một số sư phụ đào tạo samurai cảnh báo học trò của họ không nên tập trung quá nhiều vào văn chương và nghệ thuật, vì sợ tâm trí của họ sẽ trở nên yếu kém.
Áo giáp
Các Samurai nổi bật với áo giáp và mũ giáp đặc trưng. Trong thời kì đầu samurai sử dụng áo giáp dạng phẳng, nhưng sau là giáp tấm. Giáp tấm (lamellar) là loại giáp được làm bằng cách kết các miếng kim loại thành các đĩa nhỏ rồi phủ sơn mài lên để chống thấm nước. Cuối cùng những tấm nhỏ này được kết lại bằng dây da thuộc, tấm này hơi chồng lên tấm kia. Ban đầu có hai loại giáp dạng này:
• Yoroi: áo giáp trang bị cho các kị binh samurai, rất nặng với mũ sắt và bảo vệ vai.
• Do-Maru trang bị cho lính bộ binh nên có trọng lượng nhẹ hơn.
Về sau, khi giao chiến chủ yếu là giáp lá cà thì giáp do-maru được samurai sử dụng nhiều hơn. Các nhà sản xuất vũ khí đã cải tiến bộ giáp do-maru gồm có mũ giáp, bảo vệ vai và ống chân.
Mũ giáp hay Kabuto trong tiếng nhật, được làm bằng cách gắn các tấm kim loại với nhau. Kabuto được thiết kế rất cầu kì, các mối ghép được tán đinh theo hình rặng núi. Các samurai đẳng cấp cao còn gắn cả biểu tượng gia tộc và các vật trang trí cầu kì khác lên mũ giáp của họ. Một số kabuto còn bao gồm mặt nạ kim loại mang gương mặt ma quỷ, với râu ria làm từ lông bờm ngựa. Trong thời bình, kabuto phát triển rất phức tạp, và ngày nay được coi là tác phẩm nghệ thuật ở Nhật Bản.
Vũ khí
Thứ vũ khí nổi tiếng nhất của samurai là katana. Samurai luôn sử dụng tanaka cùng với một thanh kiếm ngắn hơn được gọi là wakizashi tạo thành bộ kiếm daisho.
Những thợ rèn tạo ra katana được coi là những thợ làm kiếm giỏi nhất trong lịch sử. Một trong những vấn đề lớn nhất trong việc làm ra một thanh kiếm chính là giữ cho kiếm phải thật sắc.Các thợ rèn Nhật Bản đã giải quyết được vấn đề này bằng cách đúc kiếm nhiều lớp bằng được cách pha trộn thép mềm với thép cứng để làm lưỡi kiếm, vẫn sắc bén mà lại ít bị mẻ. Thanh kiếm sắc đến nỗi có thể cắt đôi một người thành 2 nửa chỉ với một nhát kiếm.
kenjutsu Katori shinto ryu kendo
Bên cạnh Kiếm và cung nỏ, Samurai còn sử dụng vũ khí tên là naginata, một thanh mác dài gồm lưỡi dao dài 0.6 đến 1.2 mét gắn trên trục gỗ dài 1.2 đến 1.5 mét. Chính vì vậy mà naginata là vũ khí phòng ngự vô cùng hiệu qủa của người Nhật.
Vào thế khỉ 16, khi các thương nhân châu Âu đến Nhật Bản lần đầu tiên, người Nhật đã trả một khoản tiền lớn để mua súng, nhanh chóng nắm vững các kỹ thuật rèn cần thiết để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí. Từ đó sung đã gây ra ảnh hưởng lớn đến chiến tranh trên đất nước Nhật Bản, các lãnh chúa có thể củng cố quân đội bằng cách trang bị cho binh lính chưa được đào tạo những khẩu súng giá rẻ. Một số Samurai phải trang bị giáp dày hơn kín hơn như okegawa-do, để chống lại đạn pháo.
Bushido: biểu tượng danh giá của samurai
Các Samurai không phải là các chiến binh đánh thuê mà là thuộc hạ của các lãnh chúa, tuân theo giá trị luân lý được gọi là tư tưởng võ sĩ đạo (Bushido).
Bushido gồm một số các quy tắc không chính thức mà các chiến binh samurai phải tuân theo. Tinh thần Bushido đã thay đổi rất nhiều trong suốt chiều dài lịch sử của Nhật bản và chỉ được viết ra cho đến tận thể kỉ 17 trong khi các samurai đã xuất hiện trước đó hàng thế kỉ.
Đức tính đầu tiên của một samurai là phải trung thành với lãnh chúa của mình. Ở Nhật bản thời phong kiến lãnh chúa nhận sự cúng nạp từ các chư hầu của mình, đổi lai họ nhận được bảo vệ kinh tế và quân sự từ các lãnh chúa. Nếu một lãnh chúa nhận được lòng trung thành tuyệt đối từ các chư hầu của mình, toàn bộ hệ thống phong kiến sẽ sụp đổ. Vì vậy, trung thành lại mang đến sự cực đoan. Các hiến binh chiến đấu tới chết để bảo vệ chủ nhân của mình, thậm chí là tự tử nếu họ cảm hổ thẹn với chủ nhân.
Samurai cũng có nhiệm vụ báo thù. Họ sẽ tìm người để báo thù nếu danh dự của chủ nhân bị tổn hại hoặc chủ nhân của họ bị sát hại. Câu chuyện “47 người ronin” là tiêu biểu cho lòng trung thành, sự hy sinh, chí kiên định và danh dự mà tất cả võ sĩ luôn thể hiện vào thời bấy giờ. Câu chuyện kể về một nhóm võ sĩ thời kỳ đầu thế kỷ 18 đã mất chủ tướng sau khi vị chủ tướng đó bị ép buộc phải thực hiện seppuku (mổ bụng tự sát) vì bị buộc tội đã tấn công lãnh chúa khác. Để trả thù, họ đã giết viên quan tòa đó sau 2 năm kiên trì xây dựng kế hoạch và chờ đợi thời cơ. Các võ sĩ sau đó bị bắt và buộc phải thực hiện Seppuku bởi vì họ đã giết người và tấn công bí mật, điều bị coi là vi phạm luật pháp.
Samurai và Thiền Tông
Các tôn giáo bản địa của Nhật Bản là Thần đạo, cho đến khi bị Phật giáo thay thế trong thế kỷ thứ 5 sau công nguyên. Các samurai tin theo một phái Phật Giáo gọi là Thiền tông. Thiền là tập trung tư tưởng vào một sự việc hoặc một ý tưởng duy nhất. Những người theo Thiền tông cho là họ có thể tìm ra chân lý và sự hiểu biết thông qua tĩnh tâm và chế ngự bản thân. Các samurai thì cho là Thiền sẽ giúp họ hành động dứt khoát, đặc biệt là trong chiến đấu, và phát triển thư thái nội tâm.
Seppuku (mổ bụng tự sát)
Danh dự là thứ quý giá nhất của một samurai. Họ sẽ tử sát nếu thất bại hoặc vi phạm tinh thần Bushido. Tự sát đã trở thành một nghi thức được gọi là seppuku trong tiếng nhật hay thô tục hơn là hara-kiri. Seppuku là cách một samurai khôi phục lại danh dự đối với chủ nhân và gia đình, và thực hiện nghĩa vụ trung thành khi samurai đó thất bại.
Seppuku được thực hiện như một nghi thức. Samurai khi được ban cho hình phạt Seppuku (Harakiri) được tắm rửa thật sạch sẽ, mặc một áo dài màu trắng. Dụng cụ thực hiện nghi thức được đặt trên một cái đĩa của ông gồm một thanh kiếm ngắn wakizashi hoặc một con dao tanto được bọc giấy. Samurai sau đó lấy con dao và cắt mở dạ dày của mình, từ trái sang phải. Một người samurai khác đứng sau sẽ thực hiện daki-kubi, đó là một nhát chém gần như đứt hẳn đầu của người Samurai (Vẫn còn 1 dải thịt mỏng gắn đầu với thân thể) sau khi người samurai đã tự mổ bụng.
Về sau, seppuku càng trở nên nghi thức hơn, trong một số trường hợp bằng cách sử dụng quạt giấy thay vì dao. Thông thường, Kaishaku-nin (samurai thứ hai), sẽ thực hiện nhát chém hoàn hảo theo đúng nghi thức sẽ được thực hiện ngay sau khi thanh dao vừa ngập vào ổ bụng của người Samurai. Trong thời hiện đại, nghi thức seppuku lại nổi lên ở Nhật Bản, như 1 cách để để khôi phục lại danh dự khi đối mặt với thất bại và được sử dụng như một phương tiện thể hiện phản đối.
Lịch sử của samurai
Cho đến nay các nhà sử học vẫn chưa xác định được ai là samurai đầu tiên. Một số đề xuất rằng samurai xuất phát là các chiến binh bình thường. Trong thế kỉ thứ 5, 6, 7 sau công nguyên, đã xảy ra liên tiếp các cuộc chiến tranh giành ngai vàng giữa ác hoàng tử và gia tộc khi Thiên Hoàng qua đời. Tuy nhiên, hầu hết các cuộc giao tranh là chống lại người bản địa trên các hòn đảo của nhật bản mà đế chế Nhật Bản gọi là emishi.
kenjutsu Katori shinto ryu kendo
Hình ảnh một samurai trong bộ giáp truyền thống cùng các cận vệ
Một số vị hoàng đế Nhật Bản thấy rằng emishi là các chiến binh giỏi nên sau đó đã tuyển mộ họ để chiến đấu chống lại các gia tộc khác và các phe phái tôn giáo nổi loạn. Những chiến thuật quân sự và truyền thống của emishi đã được các binh lính Nhật bản kết hợp lại và sau đó được các samurai sử dụng.
Địa vị của samurai xuất phát từ sự gia tăng các gia tộc quyền lực sống xa thủ đô, nắm giữ lãnh địa rộng lớn và lưu truyền từ thế hệ này snag thế hệ khác trong hàng trăm năm. Những thành viên trong gia tộc của các vị tướng này sẽ mang địa vị quý tộc.
Những samurai đầu tiên là sự hòa quyện của truyền thống quân sự của những võ phu thất học với địa vị ưu tú và hình mẫu các chiến binh kyuba no michi. Theo một số ghi chép, từ “samurai” đầu tiên xuất hiện trong thế kỷ 12. Trong thời gian dài, các samurai là lực lượng quân sự chính để chống lại emishi và gia tộc khác.
Trong những năm 1100, hai gia tộc mạnh mẽ phục vụ Nhật Hoàng: gia tộc Taira và gia tộc Minamoto. Hai gia tộc đã trở thành đối thủ của nhau, và năm 1192, Minamoto Yoritomo dẫn đầu gia tộc của mình chiến thắng gia tộc Taira. Nhật Hoàng phong cho Minamoto Yoritomo chức Shogun - Chinh di đại tướng quân-người đứng đầu của quân đội. Tuy nhiên, Yoritomo lợi dụng vị thế này để thiết lập sự cai trị, và thiết lập một chế độ độc tài quân sự được gọi là bakufu hay Mạc phủ. Từ đây, thay vì làm trướng dưới quyền của các lãnh chúa đất, Samurai trở thành những người cai trị của Nhật Bản dưới triều đại shogun. Sau khi Yoritomo qua đời, vợ ông Masa-ko và dòng họ Hojo của bà nắm giữ việc tổ chức Mạc phủ, duy trì kiểm soát đối với Nhật Bản trong vòng hơn 100 năm.
Năm 1338, gia tộc Ashikaga giành được quyền lực từ dòng họ Hojo. Chế độ Shogun của Nhà Ashikaga không hùng mất hầu hết quyền kiểm soát đất nước, gây ra tư tưởng bè phái, giao chiến liên lục giữa các gia tộc. Trong thời gian này, các lãnh chúa (daimyo) đã xây dựng thành quách vững chắc để phòng thủ trước các cuộc tấn công.
Thời kỳ chiến tranh này gọi là nội chiến Sengoku, kéo dài cho đến khi Tokugawa Ieyaso nắm quyền kiểm soát Nhật Bản năm 1603. Tokugawa thi hành một chính sách nghiêm ngặt, cô lập và giữ quyền kiểm soát của các lãnh chúa (daimyo) bằng cách buộc gia đình của họ sống ở thủ đô, trong khi các lãnh chúa đang sống trên lãnh địa của họ. Tokugawa yêu cầu mỗi lãnh chúa qua lại thủ đô ít nhất một lần mỗi năm. Chính sách này đảm bảo sự kiểm soát các lãnh chúa bởi vì họ phải để vợ và con làm con tin ở Edo và chi phí các chuyến đi qua lại giữa hai nơi làm suy yếu quyền lực kinh tế của các lãnh chúa).
Tokugawa cũng ban hành lệnh cấm mang kiếm trừ samurai. Tất cả thanh kiếm không thuộc sở hữu của samurai bị tịch thu và nấu chảy để làm tượng. Điều này chứng tỏ samurai là một tầng lớp rất khác biệt, ở đẳng cấp cao hơn người dân bình thường.Trong suốt thời kì hòa bình Tokugawa cai trị, samurai hiếm khi tham gia chiến đấu. thời gian này các samurai đảm trách vai trò khác, hộ tống lãnh chúa của họ qua lại thủ đô, làm việc như các quan chức ở Mạc phủ, và thu thập cống nạp từ các lãnh chúa phong kiến.
Kết thúc thời đại samurai
Tokugawa và con cháu của ông đã cai trị Nhật Bản hòa bình trong hai thế kỷ rưỡi. Vai trò của các samurai đã giảm dần trong giai đoạn này, nhưng hai yếu tố dẫn đến kết thúc của samurai: sự đô thị hóa ở Nhật Bản, và kết thúc của chủ nghĩa cô lập bế quan tỏa cảng.
Khi mà càng nhiều người Nhật Bản di chuyển đến các thành phố, càng có ít nông dân sản xuất lúa để đáp ứng nhu cầu của số dân ngày càng tăng. Cuộc sống xa hoa trụy lạc của các Shogun và lãnh chúa làm yếu đi nền kinh tế Nhật bản. Nhiều người Nhật, bao gồm cả samurai lớp thấp hơn, ngày càng bất mãn với Mạc phủ vì kinh tế ngày càng kém đi.
Sau đó, vào năm 1853, một số con tàu Hoa Kì cập bến vịnh Edo. Trưởng đoàn đã trao một bức thông điệp từ Tổng thống Millard Fillmore đến Thiên hoàng (tồn tại như bù nhìn, mặc dù các shogun cai trị đất nước).Tổng thống Fillmore bày tỏ mong muốn mở rộng quan hệ thương mại với Nhật Bản, các thủy thủ Hoa Kỳ được người Nhật đối xử tốt, và muốn mở Nhật Bản như là một cổng tiếp tế cho các tàu của Hoa Kì. Perry giao bức thông điệp, nói với Nhật Bản, ông sẽ trở lại sau một vài tháng rồi rời đi.
Sau sự kiện đó xảy ra một sự chia rẽ lớn ở Nhật Bản. Một số muốn từ chối lời đề nghị của Mỹ, duy trì chủ nghĩa biệt lập, duy trì truyền thống họ. Những người khác, tuy nhiên, nhận ra rằng Nhật Bản không bao giờ có thể vươn tới các công nghệ của người phương Tây. Họ đề nghị mở cửa Nhật Bản để tìm hiểu mọi thứ từ nước Mỹ, kết thúc chủ nghĩa biệt lập và trở thành một cường quốc thế giới. Cuối cùng, Mạc phủ đã quyết định mở của Nhật Bản bất chấp việc Nhật Hoàng từ chối không đồng ý với hiệp ước. Một vài nhóm samurai nổi loạn, muốn một Nhật Bản truyền thống, hỗ trợ Nhật Hoàng và bắt đầu một cuộc nội chiến chống lại Mạc phủ. Không ngờ họ đã thành công, lật đổ các shogun, kết thúc thời kỳ Tokugawa và khôi phục lại quyền lực của NHật hoàng. Hạ tầng lớp samurai mất vị trí lãnh đạo, kiểm soát chính phủ từ phía sau vị hoàng đế mới, một cậu bé người được gọi là Thiên Hoàng Minh Trị. Sự kiện này được gọi là Duy Tân Minh Trị.
Sức mạnh của các lãnh chúa đã bị lấy đi khi chính phủ tịch thu đất đai của họ. Không còn ai trả lương cho các samurai, chính phủ đã quyết định trả tiền cho họ với trái phiếu dựa theo đẳng cấp. điều này ảnh hưởng đến cả samurai đẳng cấp cao và thấp tuy có khác nhau nhưng đều theo cùng một hướng – mỗi tầng lớp hoặc sử dụng trái phiếu để đầu tư vào đất hoặc kinh doanh, hoặc nhận ra họ không có đủ thu nhập để tự nuôi mình, đã quay trở lại làm nông dân hoặc công nhân ở các thành phố. Từ đó, các samurai không còn có vị thế nào nữa ở Nhật Bản.
Cuối cùng, vào năm 1876, Thiên Hoàng cấm samurai mang kiếm, dẫn đến việc kết thúc thời kì samurai. Mặc dù có một số cuộc nổi loạn của các samurai ở một số tỉnh, nhưng các samurai cuối cùng cũng đảm nhiệm vai trò mới trong xã hội Nhật Bản, khi mà Nhật bản chuyển sang thời đại công nghiệp.
Mặc dù các samurai không còn tồn tại, nhưng tinh thần của họ về danh dự và kỷ luật vẫn phổ biến trong xã hội Nhật hiện đại. Từ các phi công cảm tử của Nhật Bản trong Thế chiến II, võ sĩ và thậm chí cả doanh nhân hiện đại luôn coi Bushido như một kim chỉ nam trong cuộc sống, hình ảnh samurai tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ đến nước Nhật ngày nay.
(Nguồn: Internet)

LEGEND OF BOKUDEN – FROM KENJUTSU TO KENDO

Bài viết tiếng Việt: http://www.facebook.com/photo.php?fbid=367553153340666&set=a.283780388384610.60579.276461372449845&type=1&relevant_count=1
Bokuden studied kenjutsu with his father, a Shinto priest at Kashima Shrine, with his father-in-law, and with many of the famous kenshi who resided in the area of Katori and Kashima shrines. Bokuden`s skill grew to prodigious heights, and as a kenshi he is alleged to have been undefeated in thirty-nine combats. But Bokuden has overtaken by the spirit of self-reflection and developed over the years what he referred to as the “mutekatsu ryu”,  a kind of swordmanship in which no hands are needed. The following well-known anecdote reveals the nature of this development.
One day as Bokuden was crossing the Lake Biwa in a small boat crowded with passengers, a swordsman was boasting of his unmatchable skill with the sword. His loud manner caught the attention of all the passengers and the oarsman. Only Bokuden, apparently asleep, was ignoring him. The braggart, disturbed that anyone should fail to learn his skill, shook Bokuden rudely from sleep and defiantly asked what ryu of swordsmanship Bokuden followed. Bokuden replied: “The mutekatsu ryu”
bokuden kendo kenjutsu katori shinto ryu
“What`s that?” asked the swordsman. Thereupon Bokuden explained that this style of swordsmanship was the highest form of skill possible with the sword, for it relied on the use of no hands. Bokuden`s answer made the swordsman angry. He shouted “You mean that you can defeat me without using your hands?” Bokuden replied quietly in the affirmative.
“But why then you carry two swords?” asked the braggart swordsman, growing still angrier.
“I use my swords only to vanquish my own selfish desires,” answered Bokuden. The swordsman, now fully enraged, ordered the oarsman to head for the nearest land, where he might engage Bokuden to settle the issue. But Bokuden voiced concern for the lives of innocent people who might happen to wander into the combat and suggested, instead, that they go to a small island nearby. The swordsman agreed. As the small boat was beached on the island the impatient swordsman leaped ashore, threw off his cloak, and stood ready for combat. Bokuden rose slowly from his seat, removed his jacket, and to all eyes appeared about to follow his challenger ashore. To the great supprise of all, especially the boastful swordsman on the beach, Bokuden then quickly picked up an oar and shoved the boat out into the lake. As the stranded swordsman bellowed with rage, Bokuden called out to him in a calm but clear voice: “This is how the mutekatsu ryu defeats the enemy”
Bokuden`s “mutekatsu ryu” is based on a principle that has a much deeper meaning than is indicated by the humorous incident alleged to have happened on Lake Biwa. It is a principle based on original thought that is traditionally credited to Bokuden, though it is possible that he was conditioned by the thinking of other kenshi at the Kashima and Katori shrines, in particular those of the Katori Shinto-ryu and Kashima Shinto-ryu.
(From Classic Budo – Volume two – Donn F. Draeger)